Monday, October 17, 2016

Luật kỳ vọng trong kinh doanh

Bất kì cái gì bạn mong đợi với sự tự tin sẽ trở thành lời tiên tri tự thực hiện.

Bạn luôn hành động giống như một nhà tiên tri trong cuộc đời mình bởi cách mà bạn nghĩ và nói về các sự kiện sẽ xảy ra như thế nào. Khi bạn mong đợi một cách tự tin những điều tốt đẹp sẽ xảy đến, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn. Nếu bạn mong một việc tiêu cực xảy ra, việc tiêu cực đó sẽ xảy ra với bạn.

Những mong đợi của bạn cũng có kết quả rất đúng với những người xung quanh bạn. Những gì bạn mong đợi từ những người hay những tình huống quyết định thái độ của bạn đối với họ hơn là những yếu tố khác, và mọi người phản ánh thái độ của bạn ngay sau bạn, giống như một chiếc gương, có thể tích cực hoặc tiêu cực.

Tiến sĩ Robert Rosenthal thuộc trường đại học Harvard đã tiến hành hàng tá những thí nghiệm có kiểm soát trong nhiều năm để thử nghiệm sức mạnh của sự mong đợi của các giáo viên đối với việc học tập của sinh viên họ. Trong cuốn sách tâm đắc của mình, Hiệu ứng Pygmalion trong lớp học, ông kể rất nhiều trường hợp mà các giáo viên được báo cho biết rằng một sinh viên, hoặc đôi khi cả lớp, cực kì thông minh và người ta đoán rằng (những) sinh viên này sẽ tạo ra bước đột phá trong học tập vào năm tới.

Thậm chí mặc dù các sinh viên được chọn trong số học sinh của toàn trường, miễn là các thầy giáo tin rằng những sinh viên này là ngoại lệ, và các giáo viên mong họ sẽ học tập tốt, các sinh viên thể hiện tốt hơn nhiều so với các sinh viên khác trong cùng lớp hay trong những lớp tương tự so với việc họ đã được dự đoán ở các lớp trước hay hành vi trước.

Trong cuộc đời của chính bạn, những mong đợi của các nhân viên của bạn, ông chủ của bạn, khách hàng của bạn và thậm chí tương lai của bạn có hướng trở thành hiện thực. Những mong đợi của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến mọi người và các sự kiện, có thể tốt hoặc xấu, vì vậy hãy cẩn thận! Làm thế nào bạn có thể áp dụng luật này ngay lập tức:

1. Mong đợi những gì tốt nhất! Gắn những ý định tốt nhất cho các cộng sự và đồng nghiệp của mình. Giả định ngay từ đầu rằng họ muốn làm những công việc tốt, đưa ra những quyết định tốt và gặt hái những kết quả tốt.  Khi có những vấn đề trục trặc, công việc luôn luôn là vậy, thay vì phản ứng dữ dội, hãy ngồi lại với người gây ra vấn đề trong không khí thân thiện và hỏi những câu hỏi để xác định xem chuyện gì đã xảy ra. Mọi thứ thường có một lý do tốt đẹp. Bắt đầu từ nhà. Hãy nói với vợ hoặc chồng bạn rằng bạn tin họ, rằng bạn nghĩ họ rất tuyệt vời, rằng bạn yêu họ, và rằng bạn tự hào về họ. David McClelland thuộc trường đại học Harvard phát hiện ra rằng những gia đình tốt nhất, hạnh phúc nhất, các gia đình sản sinh ra những đứa con tuyệt vời nhất, đều có một đặc điểm chung đó là những gia đình “có những mong đợi tích cực”.

2. Các bậc cha mẹ thường xuyên gửi đến con cái mình một dòng những lời nhắn mang ý nghĩa tích cực, khẳng định lại tình yêu mà họ đã dành cho chúng và tin tưởng ở chúng. Cho dù bất kì điều gì xảy ra trước mắt thì con cái họ vẫn luôn biết rằng cha mẹ chúng đang ở phía sau chúng 100%. Và chúng sẽ không thất vọng về cha mẹ mình.

3. Thực tập những hành vi này với cộng sự và đồng nghiệp của bạn. Những người quản lý, nhà doanh nghiệp và nhân viên kinh doanh tốt nhất luôn là những người “ có những mong đợi tích cực”,  với mọi người và trong mọi việc họ làm .

 4. Hy vọng những điều tốt nhất về bản thân bạn. Tưởng tượng rằng tiềm năng của bạn là vô tận và rằng bạn có thể thực hiện được mọi điều mà bạn để tâm chí đến. Tưởng tượng rằng tương lai của bạn chỉ bị hạn chế bởi những tưởng tượng của chính bạn và rằng bất kì điều gì bạn đã thực hiện cho đến bây giờ chỉ là một phần nhỏ của những gì bạn có khả năng đạt được. Tưởng tượng rằng những khoảnh khắc vĩ đại nhất của bạn đang nằm phía trước và rằng mọi thứ đã xảy ra với bạn cho đến bây giờ chỉ là một sự chuẩn bị cho những gì vĩ đại sẽ xảy ra trong tương lai.

----------------------------------------------------
Nguồn: The 100 absolutely unbreakable laws of business success – Brian Tracy


Luật niềm tin trong kinh doanh

Bất cứ cái gì bạn thực sự tin tưởng, bằng cảm xúc, sẽ trở thành hiện thực của bạn.

Bạn luôn luôn làm theo niềm tin của mình, đặc biệt là niềm tin của bạn về bản thân bạn. Niềm tin của bạn hoạt động giống như một chuỗi các bộ lọc dùng để lọc những thông tin mâu thuẫn với chúng ra. Bạn không  nhất thiết phải tin những gì bạn nhìn thấy, nhưng bạn thường có khuynh hướng nhìn thấy những gì bạn tin. Bạn loại bỏ những thông tin trái ngược với những gì bạn đã quyết định tin, bất chấp niềm tin của bạn, thành kiến của bạn, dựa trên sự thật hay khả năng tưởng tượng.

Từ "Thành kiến" có nghĩa là vội vã đánh giá, đi tới kết luận trước bất kì thông tin gì, hay bất chấp thông tin, ngược lại. Một trong những chiến lược thành công nhất đó là bạn phải kiềm chế việc đánh giá con người hay hoàn cảnh cho đến khi bạn có đủ thông tin để đưa ra quyết định đầy am hiểu. Đặc biệt là bạn phải kiềm chế việc đánh giá bản thân bạn và những khả năng của bạn. Phần lớn những niềm tin thủ cựu về bản thân bạn và những khả năng của bạn đều là không đúng.

Những niềm tin tồi tệ nhất mà bạn có thể có là "những niềm tin tự giới hạn." Những niềm tin này tồn tại bất cứ khi nào bạn tin rằng bản thân bạn bị giới hạn về một mặt nào đó. Ví dụ, bạn có thể nghĩ rằng bạn không có tài năng và năng lực như những người khác. Bạn có thể nghĩ rằng những người khác vượt trội hơn bạn trong một vài lĩnh vực. Bạn có thể bị mắc vào cái bẫy rất tầm thường bằng việc tự cho mình là kém cỏi và đặt ra cho mình những gì ít hơn khả năng thực tế của bản thân bạn.

Những niềm tin tự hạn chế này hoạt động giống như những chiếc phanh đối với tiềm năng của bạn. Chúng kìm bạn lại. Chúng sản sinh ra hai kẻ thù lớn nhất của sự thành công cá nhân – hoài nghi và sợ hãi. Chúng làm bạn tê liệt và làm cho bạn e ngại trong việc nắm bắt thời cơ cần thiết để thể hiện đúng tiềm năng của mình.

Để bạn tiến tới, hãy tiến về trước và lên trên trong cuộc đời mình và sự nghiệp kinh doanh của mình, bạn phải liên tục thách thức những niềm tin của bạn đã bị chính bạn giới hạn. Bạn phải loại bỏ bất kì suy nghĩ hay gợi ý gì rằng bạn bị hạn chế ở mặt này hay mặt khác. Bạn phải chấp nhận như một nguyên tắc cơ bản rằng rằng bạn là một người “không có giới hạn” và những gì người  khác làm được thì bạn cũng làm được.

Khi tôi còn là một thanh niên, trưởng thành trong điều kiện khó khăn, tôi bị rơi vào một cái bẫy tinh thần của việc kết luận rằng bởi vì những người khác làm tốt hơn tôi làm, họ chắc phải thông minh và giỏi hơn tôi. Tôi nghiễm nhiên kết luận rằng họ đáng giá hơn tôi, vì thế tôi đáng giá ít hơn họ. Niềm tin sai lầm này đã kìm hãm tôi rất nhiều năm .

Sự thật là không ai giỏi hơn bạn và không ai thông minh hơn bạn. Nếu những người khác đang làm tốt hơn, đó phần lớn là do họ đã phát triển tài năng và khả năng tự nhiên của mình nhiều hơn bạn mà thôi. Họ đã học Luật Nhân quả và áp dụng vào cuộc sống và công việc của họ  trước bạn. Và bất kì cái gì bất kì ai khác đã làm, trong phạm vi lý trí, bạn cũng có thể làm được.

Bạn chỉ cần học cách làm mà thôi. Làm cách nào bạn có thể áp dụng luật này ngay lập tức:

1. Xua đuổi tất cả những hoài nghi và sợ sệt ra khỏi đầu óc bạn. Tưởng tượng rằng bạn không có hạn chế nào. Một thứ vĩ đại nào bạn dám mơ nếu bạn biết rằng bạn sẽ không thể thất bại? Nếu bạn có tất cả thời gian, tiền bạc, tài năng, kĩ năng, và những liên lạc mà bạn muốn có, bạn sẽ quyết định làm gì hay là gì hay có gì trong cuộc đời mình?

2. Thử thách những niềm tin tự hạn chế của bạn, những niềm tin kìm chân bạn. Phần lớn mọi người thường mù mờ với vấn đề này. Họ cần thông tin phản hồi chân thật nhất của một người nào đó mà người đó biết họ và sẽ chân thật với họ. Hãy đến gặp một người nào đó mà bạn biết và quan tâm đến vấn đề và  họ xem họ có nhìn thấy bất cứ niềm tin nào mà bạn có thể có, cái mà đang làm cho bạn thể hiện thấp hơn tiềm năng của mình.

----------------------------------------------------
Nguồn: The 100 absolutely unbreakable laws of business success – Brian Tracy


Luật nhân quả trong kinh doanh

Mọi việc xảy ra đều có nguyên nhân, với mỗi kết quả đều có một nguyên nhân cụ thể.

A-ri-xtốt quả quyết rằng chúng ta sống trong một thế giới được chi phối bằng quy luật, không phải bằng sự tình cờ. Ông đã chỉ ra rằng mọi thứ xảy ra đều có lý do cho dù chúng ta có biết đến nó hay không. Ông nói rằng mọi kết quả đều có một hoặc nhiều nguyên nhân cụ thể. Mọi nguyên nhân hay hành động đều có một loại kết quả nào đó cho dù chúng ta có nhìn thấy nó và có thích nó hay không.

Đây là luật quan trọng, “Luật thép” của tư tưởng phương Tây, của triết học phương Tây . Sự tìm kiếm không ngừng những chân lý và những quan hệ nhân quả trong các sự kiện đã làm cho phương Tây phát triển về khoa học, kĩ thuật, y học triết học và thậm chí chiến tranh trong hơn hai ngàn năm. Ngày nay tiêu điểm này đang thúc đẩy những tiến bộ về khoa học và công nghệ làm thay đổi thế giới chúng ta một cách rất nhanh chóng.

Luật này nói rằng các thành tựu, của cải, hạnh phúc, thịnh vượng và sự thành công trong kinh doanh là tất cả những kết quả trực tiếp hay gián tiếp hay kết quả của những nguyên nhân hay hành động cụ thể. Điều này chỉ đơn giản có nghĩa là nếu bạn muốn biết về những thành quả hay kết quả mà bạn sẽ nhận được hoặc bạn có thể nhận được thì bạn phải tìm hiểu từ những người đã đạt được kết quả tương tự và làm theo những gì họ đã làm , bạn có thể nhận được kết quả giống như vậy.

Thành công không phải là một sự tình cờ

Thành công không phải là phép màu, cũng không phải là sự may mắn. Mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân, tốt hoặc xấu, tích cực hoặc tiêu cực. Khi bạn đã biết rõ bạn muốn gì, bạn chỉ cần copy những người khác, những người đã đạt được nó trước bạn, và cuối cùng thì bạn cũng sẽ đạt được những gì mà họ đã đạt được.

Điều này được đề cập đến trong Kinh thánh về Luật gieo-gặt của cái chết, Luật này nói rằng, "Con người ta gieo cái gì , thì đó cũng là cái mà họ sẽ gặt được.” Nhà khoa học Isaac Niu-tơn đã gọi nó là nguyên tắc thứ ba của sự vận động. Ông nói, "Luôn luôn có một phản ứng ngang bằng và ngược chiều cho mọi hành động." Đối với bạn và với tôi, sự  diễn đạt quan trọng nhất của luật chung này là "Tư duy là nguyên nhân và điều kiện là kết quả."

Nói theo một cách khác, "Tư duy là sáng tạo." Tư duy của của bạn là sức mạnh mang tính sáng tạo quan trọng nhất  trong cuộc đời bạn. Bạn tạo ra toàn bộ thế giới của bạn theo cách mà bạn suy nghĩ. Tất cả mọi người và mọi tình huống trong đời bạn có ý nghĩa với bạn thế nào là do cách mà bạn suy nghĩ về họ và về chúng. Và khi bạn thay đổi suy nghĩ, bạn đã thay đổi cuộc đời bạn, nhiều khi chỉ trong tích tắc.

Nguyên tắc quan trọng nhất để thành công đối với cá nhân và đối với công việc kinh doanh chỉ đơn giản là như thế này: Bạn trở thành những gì bạn nghĩ trong phần lớn thời gian. Đây là phát hiện vĩ đại mà tất cả các tín ngưỡng, triết lý, siêu hình học, các trường phái tư duy, và các lý thuyết tâm lý dựa vào. Nguyên tắc này có thể áp dụng cho cá nhân cũng như nhóm cá nhân và tổ chức. Bất cứ điều gì bạn nhìn thấy hay trải nghiệm là sự diễn đạt của tư duy con người ẩn giấu phía sau hiện tượng . Ralph Waldo Emerson đã nhận ra điều này khi ông viết, "Mọi tổ chức vĩ đại chỉ là cái bóng kéo dài của một con người đơn giản."

Nó không phải là là những gì xảy đến với bạn nhưng cái cách thức mà bạn suy nghĩ về những gì xảy ra với bạn sẽ quyết định cách thức mà bạn cảm nhận hay phản ứng. Nó không phải là thế giới bên ngoài bạn, cái thế giới đã chép lại những điều kiện hay hoàn cảnh của bạn. Nó là cái thế giới bên trong bạn, cái thế giới đã tạo ra những hoàn cảnh của cuộc đời bạn.


Sự lựa chọn của bạn, cuộc đời bạn

Bạn luôn luôn được tự do lựa chọn. Kết quả là không ai bắt bạn phải nghĩ, cảm nhận hay cư xử theo cách mà bạn vẫn thể hiện. Dĩ nhiên là bạn chọn tình cảm và cách cư xử  của mình bằng cái cách mà bạn chọn để nghĩ về thế giới xung quanh bạn và về những gì đang xảy ra với bạn.

Tiến sĩ Martin Seligman thuộc trường đại học Pennsylvania gọi cách phản ứng này là "phong cách giải thích đặc thù" của bạn. Đó là cách mà bạn giải thích hay thanh minh mọi thứ cho chính bản thân mình. Đây là yếu tố quyết định đối với việc bạn sẽ là ai và bạn sẽ trở thành gì.

Một tin tức tốt lành đó là phong cách giải thích của bạn thường mang tính uyên bác. Điều này có nghĩa là nó cũng có thể không uyên bác. Cách thức bạn giải thích các hiện tượng cho chính mình nằm trong tầm kiểm soát của bạn. Bạn có thể giải thích những kinh nghiệm của mình theo một cách mà bạn cảm thấy lạc quan hơn là tức giận và thất vọng. Bạn có thể quyết định phản ứng theo cách là những phản ứng của bạn có tính chất xây dựng và có hiệu quả. Bạn luôn được tự do lựa chọn.

Những suy nghĩ và cảm xúc của bạn luôn luôn thay đổi. Chúng bị ảnh hưởng rất nhanh bởi những sự kiện xung quanh bạn. Ví dụ, khi bạn nhận được một mẩu tin tốt lành, thái độ của bạn ngay lập tức tỏa sáng và bạn cảm thấy vui vẻ tích cực hơn với tất cả mọi người và mọi việc. Ngược lại, nếu bạn nhận được tin xấu, ngay lập tức bạn sẽ trở nên bối rối, giận dữ, và nóng nảy, thậm chí nếu tin đó không chính xác hay không đúng sự thật. Căn cứ vào những trạng thái phản ứng như vậy để bạn giải thích những sự kiện cho chính bản thân mình là cách làm chết người.

Làm thế nào bạn có thể áp dụng luật này ngay lập tức:

1. Kiểm tra những phần quan trọng trong cuộc đời bạn – gia đình bạn, sức khỏe của bạn, công việc của bạn, tình hình tài chính của bạn – và quan sát các mối quan hệ nhân quả giữa những gì bạn nghĩ, nói, cảm nhận và làm và những kết quả bạn đang đạt được. Hãy thành thật với mình.

2. Phân tích xem bạn thực sự suy nghĩ về bản thân mình thế nào trong mối quan hệ với loại hình cuộc sống mà bạn đang sống. Hãy tuyệt đối thành thật. Cân nhắc xem những suy nghĩ của bạn trong mỗi lĩnh vực đang gây ra, tạo ra và duy trì hoàn cảnh xung quanh bạn. Những thay đổi gì bạn có thể tạo ra trong suy nghĩ của bạn để cải thiện chất lượng một vài bộ phận trong cuộc sống của bạn?

----------------------------------------------------

Nguồn: The 100 absolutely unbreakable laws of business success – Brian Tracy

Sunday, October 16, 2016

Tại sao nên trở thành nhà doanh nghiệp?

Điều gì khiến một người nỗ lực và khởi đầu một công việc kinh doanh của mình? Có thể do sự lôi kéo của người này hay một vài người khác? người ta thường bi quan, chán nản công việc hiện tại của mình và không thấy có bất kỳ cơ may nào trên bước đường của mình. Đôi khi, người ta nhận thấy công việc mình đang làm chứa đựng mối ẩn họa. Một công ty dự tính thu hẹp có thể dẫn đến tình trạng giảm lương và việc làm. Có thể một người bỏ qua cơ hội thăng tiến của mình. Có thể người ta không thấy có cơ hội trong công việc kinh doanh hiện tại cho một người với những sở thích và kỹ năng của họ.

Một số người trong thực tế không thể chịu nổi ý tưởng làm thuê cho người khác. Họ phản đối một hệ thống quản lý mà ở đó tiền thưởng thường dựa trên thâm niên công tác chứ không dựa vào kết quả công việc, hoặc ở đó họ buộc phải tuân thủ một thứ văn hóa doanh nghiệp nhất định.

Một số khác quyết định trở thành nhà doanh nghiệp bởi họ bị mất niềm tin do sự quan liêu hoặc những thủ đoạn chính trị nếu muốn tiến thân trong một ngành nghề, lĩnh vực đã có bề dày phát triển lâu đời. Một số khác thì mệt mỏi vì cứ phải cố gắng phát triển một sản phẩm, dịch vụ hay thực hiện việc kinh doanh không thuộc về lĩnh vực hoạt động chủ đạo của một công ty quy mô lớn.

Ngược lại, một số người bị hấp dẫn trở thành nhà doanh nghiệp do những lợi thế của việc khởi đầu một công việc kinh doanh, những lợi thế này bao gồm:

Nhà doanh nghiệp là ông chủ của chính mình. Họ quyết định. Họ lựa chọn đối tác sẽ làm ăn với họ và những nội dung họ sẽ tiến hành kinh doanh. Họ quyết định sẽ làm việc bao nhiêu giờ một ngày và đương nhiên họ quyết định sẽ thanh toán như thế nào, nghỉ phép ra sao.

Khả năng kinh doanh đem lại nhiều cơ hội kiếm được những khoản tiền lớn hơn so với việc chỉ đi làm thuê cho người khác.

Nó đưa tới khả năng tham dự vào hoạt động kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp, từ việc hình thành ý tưởng tới việc thiết kế, tạo dựng, từ việc bán hàng đến sản xuất và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Nó tạo ra uy thế của một người đứng đầu doanh nghiệp.

Nó đưa đến cho cá nhân cơ hội tích lũy tài sản, những tài sản này có thể được giữ lại, bán đi hoặc chuyển giao cho thế hệ sau.

Khả năng kinh doanh tạo ra cơ hội cho một người có thể đóng góp một phần công sức của mình. Phần lớn các nhà doanh nghiệp mới đều hỗ trợ cho kinh tế địa phương phát triển. Một số ít các nhà doanh nghiệp thông qua các sáng kiến của mình góp phần phát triển xã hội nói chung. Một ví dụ điển hình là nhà doanh nghiệp Steve Jobs, đồng sáng lập hãng Apple vào năm 1976 và sau đó đã đưa tới cuộc cách mạng trong lĩnh vực máy tính cá nhân để bàn.

Một số người đánh giá nghiêm túc về khả năng thăng tiến trong sự nghiệp hiện tại và quyết định một cách có ý thức có tiếp tục đi làm thuê hay sẽ trở thành nhà doanh nghiệp.

Không lý do nào quan trọng hơn lý do nào, không thành công nào được đảm bảo một cách chắc chắn. Tuy nhiên, khát vọng mạnh mẽ muốn khởi nghiệp, kết hợp với một ý tưởng tốt, kế hoạch thực hiện chi tiết và sự chăm chỉ làm việc có thể sẽ dẫn tới một doanh nghiệp thành công.

Hải Triều.
-------------------------------------------

Nguồn: Những nguyên tắc khởi nghiệp trong kinh doanh – Jeanne Holden

Phẩm chất gì khiến một ai đó trở thành một nhà doanh nghiệp

Ai có thể trở thành một nhà doanh nghiệp? Không có một câu trả lời đúng nào cho câu hỏi duy nhất này. Một nhà doanh nghiệp thành đạt có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi, mức độ thu nhập, giới tính và chủng tộc nào. Họ khác nhau về học vấn và kinh nghiệm. Nhưng một kết quả nghiên cứu cho thấy: hầu hết các doanh nhân thành đạt đều có những phẩm chất cá nhân nhất định, đó là: tính sáng tạo, tính chăm chỉ, lòng quyết tâm, tính linh hoạt, khả năng lãnh đạo, lòng say mê, tính tự tin và ‘thông minh’.

Tính sáng tạo: là tia lửa tạo ra sự phát triển đối với các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc đưa tới các cách thức kinh doanh. Đây chính là động lực của sự cải tiến và đổi mới. Nó khiến người ta không ngừng học tập, suy nghĩ sáng tạo ngoài những gì đã được tạo ra.

Tính chăm chỉ: là điều khiến nhà doanh nghiệp làm việc cần mẫn, 12 giờ/ngày hoặc nhiều hơn, thậm chí làm việc cả 7 ngày trong tuần, đặc biệt là từ khi khởi đầu đến khi hết sức lực của một ngày làm việc. Việc lập kế hoạch và các ý tưởng phải được tập trung cao độ nhằm đạt kết quả. Sự chăm chỉ khiến người ta đạt được điều này.

Lòng quyết tâm: là mong muốn khát khao mạnh mẽ để đạt được thành công. Nó bao gồm sự kiên trì và khả năng đứng vững và vượt qua những lúc sóng gió. Nó khiến các nhà doanh nghiệp có thể gọi cuộc điện thoại thứ mười sau khi đã gọi chín cuộc điện thoại trước đó mà không có kết quả gì. Đối với một nhà doanh nghiệp đích thực, tiền không phải là động lực. Sự thành công là động lực, tiền là phần thưởng mà thôi.

Tính linh hoạt: là khả năng chuyển biến nhanh thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường. Nó là khả năng giữ cho những mơ ước không bị trở nên viển vông trong khi luôn ghi nhớ những thực tiễn trên thị trường. Có một câu chuyện về một nhà doanh nghiệp khởi nghiệp bằng một cửa hiệu rất sang trọng chỉ để bán bánh ngọt Pháp. Nhưng khách hàng cũng muốn mua cả bánh xốp nữa. Để tránh việc số khách hàng này rời bỏ cửa hàng mình, nhà doanh nghiệp này đã thay ñổi cách nhìn của mình bằng cách đáp ứng luôn cả nhu cầu về bánh xốp của khách hàng, níu kéo lượng khách hàng này.

Khả năng lãnh đạo: là khả năng tạo ra những quy tắc và thiết lập những mục tiêu. Nó cũng chính là khả năng đảm bảo rằng những quy tắc được tuân thủ và các mục tiêu sẽ đạt được.

Lòng say mê: là điều khiến cho nhà doanh nghiệp khởi đầu và giữ họ ở đó. Lòng say mê tạo cho các doanh nhân khả năng thuyết phục người khác tin vào những gì họ diễn đạt. Nó không thể thay thế cho việc lập kế hoạch, nhưng nó giúp họ tập trung và khiến người khác chú ý đến kế hoạch mà doanh nhân đó đề ra.

Tính tự tin: có được từ kế hoạch chu đáo, điều đó giúp loại trừ được những rủi ro không lường trước được. Tính tự tin có được từ sự tinh thông chuyên môn. Tự tin giúp nhà doanh nghiệp có được khả năng lắng nghe mà không bị dao động một cách dễ dàng hoặc cảm thấy sợ hãi.

 “Thông minh” thường được hiểu gồm cả tư duy logic kết hợp với hiểu biết hoặc kinh nghiệm trong một lĩnh vực hoặc nỗ lực kinh doanh có liên quan. Tư duy logic đem lại cho người ta một bản năng tốt, còn hiểu biết và kinh nghiệm đem lại sự tinh thông nghề nghiệp. Nhiều người có trí thông minh nhưng chính họ cũng không nhận ra. Một người thành công trong quản lý ngân sách gia đình thường có kỹ năng tài chính và kỹ năng tổ chức. Kinh nghiệm trong cuộc sống, trong lao động và trong giáo dục là các yếu tố cấu thành nên “sự thông minh”.

Bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào cũng ñều có các phẩm chất nêu trên theo mỗi mức độ khác nhau. Nhưng điều gì xảy ra nếu một người thiếu một hoặc nhiều các phẩm chất này? Nhiều kỹ năng có thể có được do học hành. Hoặc giả, nhà doanh nghiệp có thể thuê những người có các phẩm chất mà chính họ đang thiếu. Chiến lược có ý nghĩa quan trọng nhất chính là việc nhận thức được những điểm mạnh và phát huy chúng.

Hải Triều.
-------------------------------------------
Nguồn: Những nguyên tắc khởi nghiệp trong kinh doanh – Jeanne Holden

Thursday, September 1, 2016

Nhà đầu tư nghiệp dư cần quan tâm điều gì? (Phần 3)

PHẦN 3: GIAO DỊCH 

46. Bạn giao dịch càng nhiều, lợi nhuận bạn thu được dường như sẽ càng ít đi. Bạn mua và bán càng nhiều, danh mục đầu tư của bạn sẽ phải chịu chi phí giao dịch càng cao hơn. Thử nghĩ xem liệu bạn có đánh bại thị trường bằng những ý tưởng thông minh không? Một nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý quỹ thường không tăng lợi nhuận bằng các giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nếu các giao dịch thường xuyên gây thiệt hại cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, thì nó cũng có thể ảnh hưởng xấu đến bạn.

 47. Đầu tư quá giới hạn cho phép. Bạn vay tiền từ những nhà môi giới và trả lãi suất để mua thêm cổ phiếu. Điều này dường như sẽ mang lại lợi nhuận nhiều hơn, nhưng đồng thời thua lỗ cũng có thể lớn hơn. Nếu cổ phiếu bạn nắm giữ xuống thấp dưới mức nào đó, nhà môi giới của bạn sẽ yêu cầu bạn hoàn trả lại một phần hay toàn bộ khoản nợ ngay lập tức. Do đó, mua ngoài giới hạn của bản thân là một rủi ro mà các nhà đầu tư nghiệp dư nên tránh xa. 

48. Thế nào là đầu tư short-selling?. Nhà đầu tư “short-seller” sẽ mượn cổ phiếu từ một nhà môi giới để bán với hy vọng cổ phiếu này sẽ xuống giá và anh ta có thể mua lại với giá thấp hơn. Tuy nhiên, chi phí cao, tiềm năng thua lỗ lớn và thậm chí giá cổ phiếu tăng sau một thời kỳ dài đóng băng sẽ khiến mong muốn thu lại cổ phiếu của những nhà đầu tư “shortseller” trở nên viển vông. Đây là một điều mà bạn nên tránh. 

49. Sự khác biệt giữa lệnh thị trường và lệnh giới hạn. Khi bạn ra một lệnh trên thị trường chứng khoán với nhà môi giới của bạn, bạn đang yêu cầu bán hay mua cổ phiếu ở một mức giá khớp lệnh. Còn lệnh giới hạn hướng nhà môi giới mua và bán cổ phiếu ở mức giá cụ thể nào đó, thì mức giá này được sử dụng như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ bạn trong một thị trường thường xuyên biến động. Nếu cổ phiếu không đạt tới giá đó, sẽ không có giao dịch nào được thực hiện. 

PHẦN 4: TRÁI PHIẾU 

50. Những quy tắc cơ bản của đầu tư trái phiếu. Giá trái phiếu sẽ giảm khi tỷ lệ lãi suất tăng và ngược lại. Tại sao? Nếu bạn sở hữu trái phiếu có mức trả lãi 6% và tỷ lệ lãi suất tăng,  lúc này, trái phiếu sẽ có mức trả lãi 7% , do vậy trái phiếu 6% của bạn sẽ mất giá. 

51. Nếu bạn đầu tư trái phiếu và giữ chúng cho đến đúng kỳ hạn thanh toán, bạn sẽ không bao giờ mất tiền. Trái phiếu chính phủ, ngân phiếu không bao giờ vỡ nợ. Trái phiếu đô thị và trái phiếu công ty cũng hiếm khi vỡ nợ (tỷ lệ vỡ nợ dài hạn chỉ khoảng trên dưới 1% đến 2%). 

52. Bán cổ phiếu trước khi đến hạn thanh toán có thể là một sai lầm. Cổ phiếu không như trái phiếu – chúng không được giao dịch mọi ngày và cũng sẽ không có nhiều người sẵn sàng mua trái phiếu khi bạn muốn bán chúng đi. Vì vậy, nếu bạn buộc phải bán trái phiếu, bạn có thể phải chấp nhận chịu thiệt một số tiền nhất định. 

53. Làm thế nào để vừa có tiền vừa không thua lỗ? Trong danh mục đầu tư trái phiếu, bạn nên nắm giữ nhiều cổ phiếu với các kỳ hạn thanh toán khác nhau để bạn có thể có tiền vào bất cứ năm nào. Điều này cho phép bạn tận dụng lợi ích từ tỷ lệ lãi suất cao để mua trái phiếu khác, đồng thời giảm thiểu rủi ro. 

54. Bạn có thể mất tiền nếu đầu tư vào các Quỹ đầu tư trái phiếu. Hàng ngày, giá trị của các cổ phiếu trong danh mục đầu tư trái phiếu luôn biến động, phụ thuộc vào sự dao động của tỷ lệ lãi suất và các yếu tố khác. Do đó, giá trị tài sản toàn Quỹ đầu tư trái phiếu cũng thay đổi theo. Vì vậy, khi bạn bán cổ phiếu của Quỹ đầu tư trái phiếu, giá cổ phiếu sẽ có thể thấp hơn – hay cao hơn – so với thời điểm bạn mua chúng. 

55. Thế nào là trái phiếu Zero-coupon. Trái phiếu Zero-coupon (cuống phiếu bằng không) sẽ không có lãi suất, thay vào đó, bạn mua trái phiếu với mức giá thấp hơn giá danh nghĩa. Khi cổ phiếu đến hạn, bạn sẽ nhận lại khoản tiền đó bao gồm khoản tiền đầu tư ban đầu cộng thêm số tiền chênh ra từ giá gốc cổ phiếu so với giá mua. Ví dụ, bạn có thể phải trả 6659 đồng và nhận 10 ngàn đồng trái phiếu zero-coupon có lợi tức 4,15% và hạn thanh toán trong 10 năm. 

56. Cuống phiếu (Coupon). Đây là mức lãi suất cố định mà bạn có thể nhận được mỗi năm từ số cổ phiếu nắm giữ. 

57. Giá trị trung bình (Par value). Mức giá này được hiểu như giá trị danh nghĩa của trái phiếu, đó là lượng tiền mà một nhà phát hành trái phiếu đồng ý trả khi đến hạn thanh toán. Thông thường, trái phiếu được giao dịch ở mức cao hơn hay thấp hơn giá trị trung bình. 

PHẦN 5: QUỸ ĐẦU TƯ  

58. Tại sao các Quỹ hỗ tương luôn thành công? Câu trả lời là do không có nơi nào khác đề xuất những phương án đầu tư đa dạng và tiện lợi như vậy. Các Quỹ này cung cấp một hướng đầu tư chi phí thấp cho các nhà đầu tư cá nhân mới vào nghề, giúp họ làm quen với thị trường, tạo đà cho họ trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp sau này. Với các Quỹ hỗ tương, bạn có thể tiến hành các vụ đầu tư mà không cần bỏ chi phí hoa hồng môi giới, việc mà bạn không thể làm khi trực tiếp đầu tư vào cổ phiếu.  

59. Với thời gian, các Quỹ đầu tư nóng có thể sẽ nguội lạnh dần, nhưng chi phí đầu tư bao giờ cũng được giữ ở mức thấp. Thông thường, bạn chỉ phải mất chi phí khoảng 2% đến 2,5% mỗi năm.

60. Làm thế nào để lựa chọn một Quỹ đầu tư? Việc bạn vội vã bắt tay một Quỹ đầu tư chỉ vì biểu đồ tăng trưởng mạnh trong vài tháng gần đây dường như là cách để bạn tự “đốt” những đồng tiền của mình. Thay vào đó, bạn hãy tập trung nhiều hơn vào các Quỹ đầu tư có thể dự đoán được xu hướng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn một Quỹ đầu tư nào đó, bạn nên dành chút ít thời gian nghiên cứu về nó, tìm hiểu hoạt động và cơ cấu tổ chức, các cổ phiếu mà Quỹ sở hữu… Và chắc bạn sẽ không muốn một Quỹ đầu tư mà cứ một vài năm lại thay một nhà quản lý mới. 

61. Khi bạn đầu tư vào các Quỹ hỗ tương, sẽ có một khoản bạn phải chịu là phí bán (sales charges). Nếu bạn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư thông qua một nhà môi giới hay do một chuyên gia nào đó khuyên bạn nên làm như vậy, bạn sẽ phải trả chi phí được gọi là phí bán, đây là mức hoa hồng dành cho họ vì những lợi nhuận bạn có được. 

62. “Phí bán” hoạt động như thế nào? Quỹ đầu tư chung chào bán theo giá trị ròng hoặc giá trị ròng cộng với một khoản phí bán, mà trong ngành thường gọi là load (gánh nặng). Vì vậy mà những quỹ này được gọi là quỹ có tính phí bán (load-fund). Những cổ phần nào chào bán theo giá trị ròng (không cộng thêm phí bán) thì người phân phối của quỹ đầu tư trực tiếp đảm nhận việc thực hiện. Cũng có thể việc này được một nhóm người hăng hái trong ban giám đốc làm. Những người này không có một lực lượng bán hàng ăn hoa hồng và họ sẽ đầu tư toàn bộ số tiền nhà đầu tư ký gửi. Vì vậy mà những quỹ này được gọi là quỹ không tính phí bán (no load-funds), phát triển rất nhanh về số lượng cũng như giá trị tài sản được quản lý.

63. Cách tốt nhất để sử dụng Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành (Sector funds): Nếu bạn có một danh mục đầu tư đa dạng, có nghĩa là bạn đang sở hữu cổ phiếu công nghệ, cổ phiếu công ty chăm sóc sức khoẻ và cổ phiếu tài chính,… Nếu đơn thuần tham gia vào những Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành, bạn sẽ làm mất cân bằng cán cân đầu tư của mình. Thay vào đó, bạn hãy dành một lượng nhỏ vốn đầu tư, từ 5% đến 10% chẳng hạn, cho các quỹ như Quỹ đầu tư bất động sản. 

64. Sở hữu trong tay cổ phiếu của 10 Quỹ hỗ tương không đồng nghĩa với việc bạn đang đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình. Đa dạng hoá có nghĩa là nhiều cổ phiếu trong các lĩnh vực khác nhau.

PHẦN 6: KINH TẾ 

65. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) làm gì? FED luôn cố gắng đảm bảo và duy trì sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng, giá cả ổn định và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Một trong những công cụ quan trọng nhất của FED là điều chỉnh lãi suất cho vay giữa các ngân hàng và tăng hay giảm nguồn cung tiền quốc gia. 

66. Tại sao những gì FED làm lại rất quan trọng? FED có ảnh hưởng lớn đến định hướng kinh tế và tỷ lệ lãi suất. Tỷ lệ lãi suất thấp hay giảm sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu. Nhưng nếu các nhà đầu tư nghĩ rằng FED có kế hoạch tăng lãi suất, họ sẽ bán cổ phiếu vì mức lãi suất dẫn đến xu hướng lượng tiền gửi ngân hàng tăng, nền kinh tế tăng trưởng chậm và ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ. Khi FED tăng tỷ lệ lãi suất, ngay lập tức giá cổ phiếu tại phố Wall đã sụt giảm, do tỷ lệ lãi suất cao sẽ hạn chế việc các công ty vay tiền để đầu tư cho những dự án kinh doanh mới. Và khi đó, trái phiếu sẽ được quan tâm hơn. 

PHẦN 7: LỜI KHUYÊN 

67. Bạn sẽ mất những khoản tiền nào? Khi đầu tư, bạn phải trả một khoản tiền nhất định cho các sự trợ giúp. Khoản tiền này là hoa hồng môi giới, phí bán của quỹ đầu tư hay chi phí tư vấn… Trên thị trường chứng khoán có nhiều chuyên gia sẵn sàng giúp bạn lập kế hoạch đầu tư, danh mục đầu tư, những chuyên gia này sẽ lấy đi của bạn khoảng 1% đến 2% tổng số tiền trong danh mục đầu tư. 

68. Phàn nàn và khiếu nại như thế nào? Nếu nhà môi giới hay nhà kinh doanh chứng khoán làm việc cho một công ty nào đó, đầu tiên bạn hãy khiếu nại bằng văn bản tới công ty của anh ta. Nếu bạn nghi ngờ việc vi phạm một quy định pháp luật về chứng khoán, bạn hãy liên hệ trực tiếp với Ủy ban chứng khoán nhà nước. Bạn có thể vào trang nasaa.org. để tìm những hướng dẫn khiếu nại bằng văn bản cùng những tài liệu cần thiết cho việc chứng minh. 

PHẦN 8: NGUỒN THÔNG TIN 

69. Những trang web hữu ích. Nơi tốt nhất để khởi đầu cho vệc tìm kiếm và phân tích thông tin là trang www.money.com. Sau đó, để đáp ứng những nhu cầu đầu tư khác của bạn, bạn có thể vào từng trang tài chính riêng lẻ có nội dung mà bạn quan tâm. Tại các địa chỉ như CNN/Money (money.cnn.com), MSN Money (moneycentral.com) hay Yahoo Finance (finance.yahoo.com) sẽ có những thông tin tài chính được cấp nhập liên tục. Mỗi trang sẽ cung cấp những thông tin khác nhau về thị trường tài chính, nguồn và các công cụ thực thi như: tìm kiếm danh mục đầu tư, chào giá, tin tức về các công ty, phân tích thị trường, biểu đồ, giá cổ phiếu, dự đoán doanh thu, thông báo kinh doanh nội bộ và dữ liệu IPO...  Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư cũng rất thích trang ww.financenter.com vì những công cụ tính toán và phân tích ấn tượng của nó. Một trang web lớn để các nhà đầu tư làm quen với các quy định và thuật ngữ đầu tư là trang www.investorwords.com, nơi mà có hẳn một từ điển tài chính với trên 6000 định nghĩa và nhiều mục từ tham khảo khác.

Hải Triều.
-------------------------------------------------------

Nguồn: CNN/Money.

Nhà đầu tư nghiệp dư cần quan tâm điều gì? (Phần 2)

PHẦN 2: HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG
  
22. Ở đây có sự khác biệt giữa đầu tư và đầu cơ: các nhà đầu tư thường thích mua cổ phiếu như một thương vụ kinh doanh và sẽ nắm giữ trong thời gian dài, còn các nhà đầu cơ nhìn cổ phiếu như những tờ giấy và họ mua chúng với hy vọng một ai đó sẽ trả giá cao hơn. 

23. Tình hình tăng trưởng của công ty sẽ điều khiển giá cổ phiếu. Có thể có sự khác biệt khá lớn về giá cổ phiếu từ năm này qua năm khác, nhưng về lâu dài, giá cổ phiếu sẽ biến động dựa trên doanh thu và lợi nhuận của công ty - nếu lợi nhuận ngày một thu hẹp thì giá cổ phiếu sẽ giảm, còn nếu lợi nhuận càng lúc càng lớn hơn thì đương nhiên giá cổ phiếu cũng sẽ tăng cao. 

24. Trước khi quyết định mua một cổ phiếu nào đó, bạn hãy chuẩn bị “bài diễn văn tóm tắt” để thuyết phục chính bản thân bạn, cô vợ đa nghi, hay bất kỳ ai và giải thích tại sao bạn muốn mua cổ phiếu. Đó có phải là một cổ phiếu tăng trưởng nhanh, ổn định và sẽ tạo nên một kỳ tích về doanh thu? Liệu chiến lược đầu tư bạn đưa ra có hợp lý? Liệu bản cân đối tài chính của công ty đó đã đủ lành mạnh? Liệu công ty này có thắng thế trước các đối thủ cạnh tranh? Đơn giản khi bạn nói ra những điều này, bạn sẽ phải tập trung hơn vào những gì bạn nghĩ và những gì bạn đã nghiên cứu, phân tích. Cuối cùng, việc này có thể giúp bạn tránh những rủi ro thua lỗ. 

25. Khi bạn đã dành vài phút để suy nghĩ, bạn hãy dành tiếp mấy phút nữa để tự hỏi tại sao bạn không nên mua cổ phiếu đó. Liệu công ty có chìm sâu trong nợ nần? Liệu vị CEO có đáng tin cậy không hay sẽ “lẩn như trạch” khi có rắc rối? Liệu giá cổ phiếu có quá đắt để mua? Việc nắm bắt những thông tin đó không những sẽ giúp bạn hiểu hơn về công ty, mà còn giúp bạn tính toán được thời điểm nên bán cổ phiếu đi.
  
26. Những công ty lớn không nhất thiết sẽ tạo ra những cổ phiếu đáng để mua. Đơn giản là vì nếu bạn chỉ đầu tư vào những công ty đang dẫn đầu thị trường, thì thu nhập của bạn có thể sẽ rất cao, tuy nhiên, một khi những công ty lớn rơi vào khủng hoảng, thì thu nhập của bạn có thể bị khủng hoảng nặng nề hơn nhiều. 

27. Cổ phiếu 20 đồng có thể quá đắt - Cổ phiếu 100 đồng lại có thể quá rẻ. Bạn hãy tính toán, nhưng không chỉ là giá mỗi cổ phiếu, mà là lượng tiền bạn thu được từ mỗi đồng tiền trong doanh thu, lợi nhuận, tài sản và tiền mặt lưu thông của công ty mà bạn đầu tư vào. Điều này bạn có thể biết được từ các tỷ lệ đánh giá cổ phiếu sau đây. 

28-31. Bốn cách để đánh giá một cổ phiếu 
- Tỷ lệ giá/lợi nhuận (P/E): Cho đến nay, đây vẫn là tỷ lệ đánh giá cổ phiếu được sử dụng phố biến nhất, bởi vì nó cho biết bạn sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đồng lợi nhuận của công ty. 
- Tỷ lệ giá/doanh thu (P/S): Chỉ số này có thể được sử dụng để nhận ra những công ty có mạng lưới kinh doanh ổn định, nhưng lợi nhuận có thể giảm sút sau quá trình tăng trưởng quá nóng. 
- Tỷ lệ giá/lưu lượng tiền mặt (P/C). Con số doanh thu và lợi nhuận mà công ty báo cáo là sản phẩm của những quy tắc tính toán phức tạp, do đó số liệu có thể bị sai lệch. Lưu lượng tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh có thể vẽ nên bức tranh chân thực hơn. 
- Tỷ lệ giá/giá trị sổ sách (P/B): Tỷ lệ này được dùng để đánh giá toàn bộ máy móc, thiết bị và các tài sản khác, thường được sử dụng khi nhà đầu tư tìm kiếm các mục tiêu tiếp quản. 

32. Sự khác biệt giữa chỉ số Forward P/E và Trailing P/E. Chỉ số Trailing P/E được dựa trên doanh thu trong năm hiện tại hay bốn quý gần nhất của công ty. Còn chỉ số Forward P/E là ước đoán dựa trên doanh thu mong đợi của công ty trong năm tiếp theo hay bốn quý sắp tới. 

33. Sự khác biệt giữa cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu giá trị. Một cổ phiếu tăng trưởng sẽ hứa hẹn một lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, trong khi đó một cổ phiếu giá trị có tính thanh khoản cao, bạn có thể bán bất cứ lúc nào với mức giá cao hơn hay thấp hơn giá trị thực của chúng. Cổ phiếu tăng trưởng thường là cổ phiếu của các hãng dầu mỏ còn cổ phiếu giá trị là cổ phiếu của các hãng tiêu dùng luôn có doanh thu và lợi nhuận ổn định, mức độ tin cậy cao. Về dài hạn, cổ phiếu giá trị có mức tăng trưởng chậm hơn, một phần vì chúng có chiều hướng được mua để đầu cơ trên thị trường. 

34. Cách tốt nhất để tìm kiếm cổ phiếu tăng trưởng giá rẻ. Để trả lời câu hỏi liệu một cổ phiếu tăng trưởng hiện có được rao bán ở mức giá hợp lý hay không, bạn hãy xem tỷ lệ PEG. Để tính toán tỷ lệ PEG của một công ty, bạn hãy chia tỷ lệ P/E với tỷ lệ tăng trưởng doanh thu dự đoán. Nếu tỷ lệ PEG thấp hơn 1,2 nghĩa là cổ phiếu đó là cơ hội tốt để đầu tư. 

35. Bạn có thể bắt đầu xây dựng danh mục đầu tư các cổ phiếu dài hạn chỉ với 9 công ty. Khi xây dựng một danh mục đầu tư cơ bản, bạn hãy bắt đầu với những công ty lớn có mặt trong 5 lĩnh vực công nghiệp tăng trưởng năng động nhanh nhất. Ví dụ, bạn có thể lựa chọn A trong lĩnh vực công nghệ, B trong lĩnh vực dược phẩm, C trong lĩnh vực dịch vụ tài chính…

36. Đừng đặt quá 10% vốn đầu tư bạn có vào cổ phiếu của chính công ty bạn. Nếu bạn buộc phải nắm giữ một số lượng lớn hơn 10% - có thể do những quy định của công ty - bạn hãy cố phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào những lĩnh vực khác ổn định hơn lĩnh vực của bạn. Ví dụ, nếu bạn làm việc cho một công ty công nghệ cao, hãy kiếm cho mình những cổ phiếu của các công ty công nghiệp trả cổ tức cố định. 

37. Đừng đặt quá 10% vốn đầu tư cổ phiếu của bạn vào một công ty. Những bài học lớn như Enron và WorldCom là minh chứng rõ nét cho nhận định rằng: một danh mục đầu tư quá tập trung sẽ giá tăng sự mất ổn định và tăng rủi ro thua lỗ. 

38. Sự phân tán cổ phiếu cũng không làm bạn trở nên giàu có. Việc chia tách cổ phiếu để đầu tư là cần thiết, nhưng việc phân tán quá rộng lại rất có thể phản tác dụng. Khi bạn chia tách cổ phiếu để đầu tư, bạn cũng sẽ không giàu hơn hay nghèo hơn chính bạn trước đây. Ví dụ, sau khi phân tán cổ phiếu, bạn kết thúc năm tài chính với số lượng cổ phiếu nhiều gấp đôi, nhưng chúng được giao dịch với giá chỉ bằng một nửa. Tuy nhiên, một vài nhà đầu tư nhìn nhận việc phân tán là dấu hiệu của việc đa dạng hoá đầu tư tới nhiều công ty hấp dẫn hơn. Nhưng rồi, các nghiên cứu cho thấy rằng cổ phiếu được phân tán thường ít đem lại lợi nhuận hơn so với việc không phân tán, nếu thời gian đầu tư của bạn chỉ từ một đến hai năm. 

39. Tìm kiếm thông tin để tìm hiểu về công ty bằng cách đọc các báo cáo tài chính hàng quý hay hàng năm. Bạn cũng có thể tìm kiếm các thông tin về các công ty trên Internet hay trang web của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.

40. Theo sát chỉ số thị trường chứng khoán. Đây là chiến lược để mua lại những cổ phiếu có giá trị sinh lời cao nhất vào mỗi tháng 1 đầu năm. Bạn giữ chúng trong một năm, sau đó bán đi những cổ phiếu sa sút nhất trong bản danh sách và mua một cổ phiếu khác thay thế.

41. IPO sẽ không như mong đợi. Trong thời kỳ hoàng kim của các công ty Internet, mọi người đều muốn lao vào các đợt phát hành chứng khoán ra công chúng (IPO). Tuy nhiên, IPO không đem lại kết quả về lâu dài. Những cổ phiếu này thường đem lại phần lớn lợi nhuận trong những những ngày giao dịch đầu tiên, sau đó, các đợt phát hành mới sẽ chỉ “ì ạch” trên thị trường trong những năm tiếp theo. 

42-45. Bốn lý do đúng đắn để bán cổ phiếu. Bạn đừng bán cổ phiếu chỉ vì chúng sụt giá hay vì thị trường có dấu hiệu đi xuống. Những lý do để bán cổ phiếu đi là: 
- Thứ nhất, một vài yếu tố quan trọng về hoạt động kinh doanh hay triển vọng lợi nhuận của công ty đã thay đổi so với thời điểm bạn mua chúng. 
- Thứ hai, bạn nhận ra rằng những nhận định, đánh giá trước đây của bạn về hoạt động kinh doanh và triển vọng lợi nhuận của công ty là sai lầm. 
- Thứ ba, công ty bạn đầu tư đang cho thấy họ hoạt động quá tốt so với mong đợi – giá cổ phiếu tăng trên mức mà bạn tin rằng phản ánh giá trị thực của công ty. 
- Thứ tư, cổ phiếu nào đó hiện đang chiếm một phần quá lớn trong danh mục đầu tư của bạn khiến rủi ro tăng cao.

Hải Triều.
-----------------------------------------------------------------------
Nguồn: CNN/Money.